Lời ngỏ


Truyện dịch


Truyện ngắn


Truyện thiếu nhi


Nghệ thuật sống


Những bài viết khác


Tạp Bút


Sách


Liên lạc


 

 

 

 

Công nương hoa sen

WILLIAM E. BARRETT

(1)

Nhị Tường dịch


 

 

Phần 1. Thuở ấu thời 

Chương một

 

Lănh địa Koli[1] là một quốc gia độc lập, hoặc gần như độc lập. Nó nằm dọc trên một thung lũng dài và hẹp giữa hai dăy núi, với một phần ba dăy núi tuyết phủ quanh năm ở phía sau. Người dân xứ Câu Ly nh́n thấy tuyết trên những vùng núi xa xăm quanh năm suốt tháng nhưng tuyết không bao giờ rơi xuống thung lũng của họ, cái thung lũng vùng cận nhiệt đới, một nơi chuối, tre và cây đỗ quyên phát triển. Trong thời đại của chúng ta, chúng ta gọi nơi này là vành đai Nepal và phía sau lưng dăy núi Himalayas (Hy Mă Lạp Sơn)[2]. Dân Koli đă có những cái tên khác cho chúng, những cái tên đă không c̣n ư nghĩa ǵ nữa.

Người dân có nước da sáng, được biết như người Bắc Âu hoặc A-ri-an[3] khi họ vượt qua phương Bắc và chinh phục những quốc gia khác trên đường đi của ḿnh. Những người bị chinh phục có màu da sẫm, văn minh hơn người chiến thắng vào cái thời xâm chiếm đó. Dân da sáng nhận một mức sống cao hơn, đ̣i hỏi và phát triển những kỹ năng, kể cả việc dồn người da sẫm vào trong núi hoặc sử dụng chúng như những nhân công trong những công việc hạ tiện. Tất cả điều đó xảy ra cách đây rất lâu. Người dân Koli không biết những sự kiện quá khứ nằm xuyên suốt những bài thơ của các ca sĩ dân gian, những câu chuyện những du sĩ kể lại, những anh hề trong cung, tất cả những điều đó đều là những nghi hoặc. Có những tác phẩm điêu khắc về thần thánh và quỷ dữ nhưng không có các ông vua và thần dân. Đă là một người dân Koli th́ không có ư thức về lịch sử .

Tín ngưỡng của dân Koli là đạo Bà La Môn, một niềm tin càng đơn giản càng phức tạp như người ta muốn. Tầng lớp tu sĩ là người Bà La Môn, nhưng không phải tất cả những người Bà La Môn đều là tu sĩ. Niềm tin vào luân hồi là phổ biến, không bao giờ hoài nghi hoặc chất vấn. Người ta sống, người ta hành xử trong cuộc đời như là học trong trường học; trong kiếp sau, nếu anh ta đă từng học tốt bài học của ḿnh, anh ta sẽ sống tiện nghi hơn và cơ hội mở rộng hơn; nếu anh ta phung phí cuộc sống của ḿnh một cách tệ hại, anh ta sẽ bị trượt lùi.  Trượt lùi đ̣i hỏi sự cần thiết học lại, cần cù trèo lên lại xuyên suốt nhiều kiếp sống để trèo lên bậc thang, có lẽ là từ cái thấp bé nhất, cho những ai đă từng rơi xuống.

Không có sự bất b́nh đẳng và không có ư thức về sự bất b́nh đẳng. Mỗi đời người, là nơi anh ta xứng đáng được hưởng, sống một cuộc sống với đủ cơ hội để học những ǵ anh ta cần phải học. Dĩ nhiên là không có đời sống nào dễ dàng cả. Những người cần lao trên đồng lúa gặp những khó khăn, một vài người trong số họ tỏ ra khắc nghiệt, nhưng cả những giới vương giả cũng không thoát được những khó khăn, kể cả những tu sĩ.

Dandapani vua nước Koli [4] không phải là một thánh nhân hay kẻ dữ. Ông là một người đàn ông cứng rắn, nhưng thỉnh thoảng lại đa cảm, một người đàn ông tin vào sự công bằng nhưng cũng phí chút thời gian để đồng cảm. Vào ngày thứ chín sau ngày trăng thượng tuần của tháng Kartikka (Tháng 10-tháng 11) ông nhận được một tin vui bất ngờ nhất trong cuộc đời của ông.

Cuối cùng, ông đă là cha của một cậu con trai. Con trai ông ắt sẽ là một người đàn ông vĩ đại, theo những ngôi sao chiếu mệnh, một người đàn ông có một địa vị tôn quư. Vợ ông chỉ nói với ông về việc mang thai, và vốn là một người đàn bà, bà không biết ǵ hơn. Những người Bà la môn đă mất ba ngày tập trung chiêm đoán về bào thai này. Đó là những giáo sĩ Bà la môn bất khả tư ngh́. Ông không bao giờ thấy các vị giáo sĩ Bà la môn tối cao, rất gần gũi với ông, mắc sai lầm trong việc tiên tri; hoặc họ đều biết, hoặc họ giữ im lặng. Ngày nay ông đă có bảy lời tiên tri của các vị Bà la môn xác nhận do Udatta trưởng nhóm đưa lại.

“Ta đă bảy mươi tuổi rồi” vua nói. “Vợ ta, trong sáu năm trời, đă không có lấy một mụn con. Những vũ nữ và cung tần, số lượng không hề giảm xuống, chỉ sanh toàn là con gái. Ta đă từng mong mỏi t́m kiếm có một đứa con trai từ lúc ta mười lăm tuổi. Hai mươi lăm năm trời! Bây giờ mới có được đây!”

Udatta cúi đầu. “Chúng thần xin chúc mừng bệ hạ”

“Nhiều người sẽ chúc mừng hạnh phúc của ta”

Vua xứ Koli tuyên bố ba ngày lễ hội cho thần dân. Ông tặng cho vợ ḿnh, Avagati, một sợi dây chuyền vô giá trước đây là của thái hậu. Ông cũng cúng dường 3 lễ vật bằng vàng cho ngôi đền. Xong xuôi, ông khởi hành sang thăm vua nước láng giềng Kapila[5]. Vợ ông biết lư do ḿnh được tặng quà, nhưng những người khác không biết lư do của lễ hội. “Nhà vua đang hy vọng một mùa màng tốt tươi” họ nói “hoặc ngài đang vui mừng khi những mùa mưa đă qua. Dù có là vấn đề ǵ đi chăng nữa th́ một lễ hội là một điều tốt”.

Dân chúng nhảy múa ca hát và chơi nhạc suốt suốt đêm. Họ ăn nhiều uống nhiều và hoan lạc. Quốc vương xứ Koli th́ thờ ơ. Hăy mặc cho họ làm những ǵ họ muốn. Ông đang trong niềm hy vọng một mùa bội thu và ông hạnh phúc khi mùa mưa đă qua và ông là một người đàn ông với một ước mơ. Ông sẽ có một đứa con trai. Ông cưỡi con ngựa trắng lớn của ḿnh trong một cuộc diễu hành dài theo sau bốn con voi được trang điểm màu vàng và đỏ. Những người đàn ông nhỏ hơn trên những con ngựa nhỏ hơn hộ tống. Một đoàn kỵ binh Kapila đón chào chờ đợi khi họ băng qua sông Rohini[6] biên giới của hai nước. Sáu con voi Kapila trang điểm rực rỡ trong màu bạc và xanh lá cây, đều bước một cách đường bệ như đoàn hậu quân.

Những đám mây ở phương nam, đen sẫm trong nhiều tháng giờ đă trắng bông và có cơn gió trong lành từ phía bắc. Những dăy núi gần với những đường nét mềm mại xanh mờ khói và những dăy núi xa th́ trắng cứng rắn với tuyết phủ. Ngày ấm áp mặc dù c̣n gió và người dân đứng trên những cánh đồng nh́n đoàn diễu hành đi qua. Những nhân công đứng trên đường cũng vậy, nhưng họ lùi về phía sau và tất cả đều đứng hướng về phía mặt trời. Những nhân công trên đường, xét về giai cấp, họ là những tiện dân Untouchable [7] (bất khả xúc),và thậm chí cái bóng của họ cũng bị kỳ thị như cả hai là một. Nếu cái bóng của họ đổ xuống thức ăn,  thức ăn đó sẽ được vứt đi. Tất cả mọi người đều biết điều này, nên người bất khả xúc thường cẩn thận khi di chuyển, khi đụng chạm và lưu tâm nơi cái bóng của họ đổ xuống.

Thành Kapilavastu [8] thủ đô của vương quốc Kapila cũng giống như hầu hết các thành phố khác thời bấy giờ. Một loạt những ṿng tṛn,  các tầng lớp thấp sống ở vành đai chu vi bên ngoài và tầng lớp cao quư sống ở trung tâm. Lâu đài của Vua Shuddhodana (Tịnh Phạn) được xây bằng gỗ và đá xếp thành nhiều bậc và tầng, có rất nhiều pḥng với những cấp bậc khác nhau và có một hệ thống nước tinh vi cung cấp nước cho các pḥng tắm và nhu cầu vệ sinh. Một cung điện nhỏ hơn dùng để tiếp khách riêng biệt. Quốc vương nước Kolo được quốc vương Kapila đón chào tại cung điện chính, cả hai ông vua cùng đàm đạo và suy nghĩ về những vấn đề riêng của họ.

Họ là người có mầu da sáng, hậu duệ của người Aryan chiến thắng thuở xưa. Vua Dandapani (Thiện Giác) là người tầm thước, chắc nịch với đôi vai rộng. Ông có một bộ râu dày và cặp mắt đen. Vua Shuddhodana (Tịnh Phạn) cao và là một người vốn từng mảnh mai giờ đây đă nặng cân, với đôi mắt xanh và không có râu, mái tóc hoa râm. Họ chào hỏi và đối đáp với những đối thoại lịch thiệp trong vài phút, có cả những cận vệ. Không đợi đến khi họ riêng tư bên cạnh bồn hoa, và trong tiếng nhạc nền, vua Dandapani đă báo tin. Trước mặt họ là những thức uống rượu lúa mạch, giống như whisky và tiếng nhạc ḥa âm giữa đàn và sáo.

“Tôi sắp làm cha rồi” Vua Dandapani nói.

“Thật là kỳ tích phải không?”

“Vâng. Lần này th́ tôi là cha của một cậu con trai. Nó sẽ sinh ra vào mùa xuân. Những giáo sĩ Bà La Môn đă đoan chắc với tôi về điều đó và tất cả những điềm báo đều tuyệt hảo. Nó sẽ là một người đàn ông của nhiều ân huệ, một con người với sự kiện trọng đại trong đời sống theo sau.”

Vua Shuddhodana nâng ly. “Tôi xin chúc mừng ngài. Chúc nguyện tất cả những dự báo tốt đẹp đến với con trai ngài”. Ông mỉm cười khi đặt ly xuống. Ông là một người đàn ông tinh tế hơn quốc vương xứ Koli. “Tôi không dám lạm bàn vào chuyện của ngài” ông nói, “cũng như không dám không lưu tâm đến; nhưng nếu ngài không đến thăm tôi, tôi cũng sẽ đến thăm ngài. Tôi cũng thế, tôi sắp được làm cha, và cũng được các vị Bà La Môn đáng tin cậy tiên báo rằng nó sẽ là một đứa con trai xuất chúng.

Vua  Dandapani giật ḿnh và để lộ ra điều đó. “Tôi chúc mừng hạnh phúc của ngài” ông nói. “Lạy thần Siva[9]! Cả hai chúng ta! Tôi thật không thể nào tin được”

“Tôi cũng không tin được. Tôi nay đă năm mươi sáu. Người vợ chính thất của tôi, Mahamaya đă có mang. Sau mười lăm năm! Chúng tôi đă lấy nhau mười ba năm rồi mà không có nỗi một mụn con gái. Bây giờ th́, một cậu con trai!”

Có một chút âu lo trong giọng nói của ông. Dandapani chia sẻ cảm giác lo âu đó và Dandapani đă mất vị trí trung tâm của sự chú ư; giờ đây ông trở thành người chẳng có chuyện ǵ để kể nữa. Vua Shuddhodana, ông biết, đă từng là một người vô địch t́m kiếm phụ nữ trong thời trai trẻ và bây giờ, nổi tiếng là một người đàn ông với vô số cung tần mỹ nữ thêm vào hai bà vợ. Nếu một người đàn ông như vậy, sinh toàn con gái hoặc không con, sau nhiều năm bây giờ mới có một mụn con trai, vậy th́ các thần linh ắt phải cảm kích trước ông.

“Những đứa con trai của chúng ta sẽ sinh ra gần như cùng một lúc”. ông nói.“Chúng sẽ là đối thủ. Chuyện  ǵ sẽ xảy ra khi chúng cầm quyền nhỉ?”

“Chắc cũng không có ǵ đâu. Chúng sẽ t́m thấy những ǵ chúng ta đă t́m thấy. Chúng ta cũng là đối thủ vậy”

“Tôi và ngài?

“Vâng.”

Họ cùng xem xét điều đó. Các vương quốc của họ nhỏ, có được một vẻ ngoài quyền lực nhưng thật sự không có quyền lực thật sự . Những dăy núi, bắc và tây, tạo nên những căn cứ cho những những bộ tộc man rợ hiếu chiến, trừ khi cản trở, sẽ bị đột kích dai dẳng. Koli và Kapila, chừng nào mà họ c̣n là đồng minh, có thể giữ những bộ tộc miền núi  trong sự kiểm soát, nhưng họ không đủ mạnh để thành công trong việc xâm lấn các vùng miền núi; nếu họ xung đột với nhau, người dân miền núi sẽ cô lập họ và hủy diệt cả hai.

Kosala, (Câu Xá La) vương quốc vĩ đại ở phía Nam là vị thế của quyền lực chính cống, và nhà vua của nó có quyền tôn xưng ḿnh là “Đại vương”. Trong mối liên hệ của họ với ông ta, vua Dandapani và Shuddhodana chỉ đơn thuần là những lănh chúa. Kosala thừa nhận tự do và thẩm quyền mà họ có, bởi v́ họ là những nước trung gian đắc lực; nhưng Kosala có thể thôn tính họ nếu muốn.

“Những cậu bé sẽ suy nghĩ sâu xa đâu” Vua Dandapani nói. “Cũng không khôn ngoan. Chúng ta sẽ hướng dẫn chúng thật cẩn thận”

“Hoặc không dạy chúng ǵ cả. Chúng không có đi vào quyền lực cùng một lúc”

Đó là một hướng khác cho  hai người đàn ông suy nghĩ. Vua Shuddhodana đă 56 tuổi, già hơn vua nước Koli 16 tuổi. Con trai của ông ta có thể có quyền lực trước tiên. Cậu bé đó sẽ làm ǵ với quyền lực đó, hoặc thử làm ǵ với nó? Hai người đàn ông có thể tự vấn khi họ ngồi thật thoải mái trong buổi hoàng hôn dài, nhưng vấn đề hiển nhiên quá tế nhị để thảo luận. Họ là những người trị v́, cũng như con trai của họ cũng sẽ là người cai trị, và thậm chí trong giây phút thư giăn họ cũng nghĩ về thời hạn của quyền lực, về sự cản trở của quyền lực khi không có người khác.

“Những đứa con trai!” Vua Shuddhodana nói. “Thật là điều vĩ đại khi có một đứa con trai. Thế giới sẽ mở ra.”

 

 


 

[1] Câu Ly

[2] Himalayas (HY MĂ LẠP SƠN (Himalayas): Dăy núi cao nhất thế giới, trải dài 1,500 dặm (miles) xuyên qua những vùng từ đông bắc Hồi Quốc (Pakistan), Kashmir (miền bắc Ấn Độ), nam Tây Tạng (Tibet) đến các vương quốc Nepal, Sikkim và Bhutan. Rặng núi này được chia làm ba phần: khu Đại Hy Mă Lạp Sơn (Great Himalayas) nằm ở hướng bắc, tiếp đến Tiểu Hy Mă Lạp Sơn (Lesser Himalayas) và Ngoại Hy Mă Lạp Sơn (Outer Himalayas) nằm về phía nam. Trung b́nh đỉnh cao ở Đại Hy Mă Lạp Sơn là 20,000 feet, trong đó có đỉnh Everest cao nhất thế giới tới 29,028 feet. Ngoài ra c̣n có 11 ngọn núi khác với đỉnh cao độ 26,000 feet.)

[3] A-RI-AN (ARYAN): Danh từ “Arya”, tiếng Phạn (Sanskrit) có nghĩa là cao quí (noble). Chủng tộc A-Ri-An thuộc giống dân Ấn-Đức (Indo-Europeans) hoặc Ấn-Đức (Indo-Germanic) mà theo các học giả, quê hương chính gốc của họ là ở vùng Trung Á (Central Asia) hoặc Trung Âu (Central Europe). Dân A-Ri-An gồm có hai huyết hệ: Đông Huyết Hệ (Eastern Branches) gồm các dân tộc Ba Tư (Persia), A Phú Hăn (Afghanistan), Ấn Độ (Hindustan) và Tây Huyết Hệ (Western Branches) gồm các dân tộc ở Châu Âu, ngoại trừ dân Thổ Nhỉ Kỳ (Turks) và Hung Gia Lợi (Magyars).

Chủng tộc A-RI-AN (Aryan) xâm nhập Ấn Độ thuộc giống Ấn-Âu (Indo-Europeans) khoảng vào năm 5000 trước tây lịch đến 1500 (trước T.L.) hoặc vào giữa năm 2500 đến 2000 trước tây lịch, và định cư đầu tiên tại vùng Punjab thuộc miền bắc Ấn Độ ngày nay. Phần đông dân chúng Ấn thuộc chủng tộc A-Ri-An (Aryan) đều theo Ấn Độ Giáo (Hinduism), chuyên thờ các đấng thần linh (Gods) như Brahma (Phạm Thiên), Thần Vishnu và Shiva

[4] Thiện giác vương.

[5] Ca-Tỳ La 

[6] Lô miện ni. Rohini (Vương quốc Sakya, phía Bắc của vương quốc là miền cao nguyên gồm những dăy đồi nối tiếp nhau chạy về phía chân dăy Himalaya. Một nửa vương quốc là đồng bằng ở vào phía Nam. Kinh đô Kapilavatthu ở vào khoảng đất trù phú nhất của miền đồng bằng này. So với các nước láng giềng Kosala và Magadha, vương quốc Sakya thật bé nhỏ. Đất đai cũng không ph́ nhiêu, nhưng vị thế của vương quốc thật là đặc biệt. Các con sông Rohini và Banganga bắt nguồn từ miền cao nguyên chảy về tưới đồng bằng rồi tiếp tục đi về miền Nam để chảy về sông Hiranyavati trước khi rót vào sông Hằng. Siddhatta thường ưa ngồi bên bờ sông Banganga ngắm ḍng nước chảy.

[7] Untouchables. Giai cấp cùng đinh trong xă hội Ấn Độ . Cách đây mấy trăm năm, khi ở Ấn Độ,phân chia đẳng cấp đă trở thành truyền thống của người Hindu, những người Untouchables sẽ không được phép đụng vào những người Touchables, họ không được đi trên đường công cộng, không được mặc áo che thân, không được mang dù... và c̣n rất nhiều thứ không được khác.

[8] Kapilavastu (CA TỲ LA VỆ (tiếng Pali: Kapilavatthu; tiếng Sanskrit: Kapilavastu): Nơi đức Phật đă ra đời vào thế kỷ thứ 7-6 trước tây lịch, là một trong những tiểu quốc của Ấn Độ thời xưa, dưới quyền trị v́ của vua Tịnh Phạn (P;S, Suddhodana). Về vị trí địa dư, Ca Tỳ La Vệ bấy giờ nằm dưới chân núi Hy Mă Lạp Sơn (Himalayas); hướng đông giáp hai vương quốc Vajji (P;S, Vrjji) và Ma Kiệt Đà (P;S, Magadha); hướng tây giáp nước Kiều Tát La (P, Kosala; S, Kausala); và phía bắc là sông Rohini làm ranh giới ngăn chia Ca Tỳ La Vệ với xứ Câu Ly (P; S, Koliya). Ngày nay, Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) được các nhà khảo cổ xác nhận thuộc làng Tilaurakota trong địa hạt Terai, xứ Nepal, một vương quốc nằm về phía đông bắc nước Ấn Độ, gần núi Hy Mă Lạp Sơn (Himalayas), trong vùng nam Á Châu.

[9] Thần Siva thường được nhiều người hiểu rằng đó là thần thể hiện sức mạnh hủy diệt mà ít nghĩ đến sự biện chứng hủy diệt để sáng tạo, bảo tồn.

Thần Siva thường được thể hiện là vị thần có 3 con mắt, một con mắt giữa trán, đầu gài mảnh trăng lưỡi liềm sau búi tóc, cổ đeo tràng hoa kết bằng sọ người hay con rắn. Lưng khoác tấm da hổ hay da voi. Tay có thể thể hiện 4 cánh tay, 8 cánh tay, 16 cánh tay cầm các vật như tấm da hươu, bắt con linh dương, cầm đinh ba, trống, gậy hoặc chùy. Mỗi vật tượng trưng cầm tay thể hiện một chiến tích của thần Siva:

- Con mắt thứ 3 ở trán dùng để thiêu cháy thần Kama.

- Đinh ba dùng đâm chết hổ khi các thần sai hổ đến hại Siva.

Thần Siva rất nổi tiếng với điệu nhảy Nataraja mà một lá vàng ở g̣ Ia đă khắc tạc thể hiện. Đặc biệt thần Siva được thể hiện phi nhân tính dưới h́nh thức Linga.

 

Mục Lục >>Xem chương 2

 


Trở về trang sách


Home

Khởi đăng: 1/2/2007 - Cập nhập 2/2011

Bản quyền thuộc về Nhị Tường